Kinh nghiệm bồi dưỡng học sinh giải Toán bằng tiếng Anh và giải toán bằng Tiếng Việt trên mạng Internet

Tháng Bảy 1, 2015 4:16 chiều

 

 

I. Điều kiện hoàn cảnh tạo ra sáng kiến:

Là một giáo viên Tiểu học đặc biệt là một giáo viên chủ nhiệm lớp 4 và được phân công phụ trách Câu lạc bộ giải toán tiếng Việt và giải toán Tiếng Anh của khối 4 tôi nhân thấy:

– Học sinh khối 4 do tôi phụ trách các em đang có một tư duy phát triển, một số em có năng khiếu trong các môn học thì thích tìm tòi, học hỏi những điều hay, những cái mới lạ và thích khám phá những kiến thức mới khó hơn. Đặc biệt là những bài toán khó và những bài toán được viết bằng một ngôn ngữ khác như toán Tiếng Anh. Các em rất dễ nhàm chán với những bài toán dễ, không hứng thú với những bài toán đơn giản. Mặt khác các em muốn đạt được giải cao trong các kì thi do các cấp tổ chức thì phải có rất nhiều yếu tố: sự tự tin; kiến thức; sự may mắn; sự quan tâm của gia đình và đặc biệt là sự kèm cặp và hướng dẫn của giáo viên. Tuy nhiên chúng ta không nên chờ đợi bởi sự may mắn. Theo tôi thì chúng ta cần trang bị cho các em một vốn kiến thức vững vàng nhất là kiến thức của học sinh khối 4 (đặc điểm là rất nhiều dạng toán mới khác hẳn với những dạng toán mà các em đã được học ở các lớp dưới. Kiến thức lớp 4 được đánh giá là khó nhất của chương trình Tiểu học). Do vậy chúng ta phải trang bị cho các em kiến thức chắc chắn khi đi thi vì những em có kiến thức còn rỗng thì không thể thi tốt được. Song song với môn toán Tiếng Việt thì các em lại được tiếp cận với một môn toán Tiếng Anh. Đây là năm đầu tiên các em được tham dự vì thế còn rất nhiều bỡ ngỡ. Phải làm sao để giúp các em nắm chắc các kiến thức đã học? Phải ôn luyện cho các em như thế nào? Đó là những câu hỏi luôn đặt ra trong đầu tôi và chắc cũng là của rất nhiều các thầy, cô giáo trực tiếp giảng dạy như tôi. Chính vì vậy tôi đã chọn đề tài “Kinh nghiệm bồi dưỡng học sinh giải Toán tiếng Anh và giải toán Tiếng Việt trên mạng Internet”.

  1. Mô tả giải pháp:
  2. Giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến.

Trong những năm gần đây BGD&ĐT đã tổ chức cuộc thi giải Toán tiếng Anh và giải toán tiếng Việt trên mạng Internet cho học sinh phổ thông nhằm đào tạo bồi dưỡng nhân tài; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy và học tại các trường phổ thông; tạo ra sân chơi trực tuyến môn Toán cho học sinh phổ thông; tạo điều kiện cho học sinh tiếp cận và sử dụng Internet là một phương thức học tập, học sinh được luyện tập và tự đánh giá năng lực học tập môn Toán; tạo ra môi trường thân thiện, lành mạnh để học sinh tích cực giao lưu, học tập; tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, thiết bị dạy học, đặc biệt là phòng máy có kết nối Internet.

Đặc biệt trong 3 năm gần đây BGD&ĐT tổ chức thêm cuộc thi giải toán Tiếng Anh nên số lượng các em học sinh tham gia nhiều hơn.

          Để nâng cao chất lượng dạy và học, đồng thời để đào tạo bồi dưỡng  nhân tài cho đất nước, việc bồi dưỡng học sinh có năng khiếu trong môn toán ngay từ ở cấp Tiểu học là rất cần thiết đặc biệt là ở lứa tuổi học sinh lớp 4. Bản thân luôn được nhà trường tin tưởng giao cho việc phụ trách câu lạc bộ giải toán tiếng Anh và giải toán Tiếng Việt trên mạng nên tôi đã dành nhiều thời gian nghiên cứu, tìm tòi, đúc rút kinh nghiệm để làm sao việc bồi dưỡng đem lại hiệu quả cao.

         a / Thuận lợi :

         – Câu lạc bộ do tôi phụ trách luôn được sự quan tâm của các cấp lãnh đạo, của Ban Giám hiệu Nhà trường, của các bậc phụ huynh.

– Các em học sinh chăm ngoan, hiếu học, nhiều học sinh là con em những gia đình hiếu học.

– Bản thân tôi là một giáo viên còn trẻ, nhiệt tình, tâm huyết với nghề nghiệp.

b / Khó khăn :

– Khi chưa có kinh nghiệm, tôi soạn thảo chương trình bồi dưỡng hết sức khó khăn, vất vả.

– Việc truyền thụ kiến thức cho học sinh còn gượng ép, máy móc. Học sinh tiếp thu bài còn mang tính thụ động, gò ép.

– Việc tổ chức cho học sinh thực hành trên máy còn lúng túng, mắc lỗi, sai sót nhiều.

– Hiệu quả: Số lượng học sinh đạt giải trong các kì thi học sinh giải toán trên mạng còn thấp.

  1. Giải pháp sau khi có sáng kiến:

          a / Xác định rõ vai trò người thầy:

Trước hết, ta phải xác định vai trò của người thầy là hết sức quan trọng. Bởi vì người thầy có vai trò chỉ đạo và hướng dẫn học sinh, gợi ý, dẫn dắt học sinh để đi đến các phương pháp học nói chung và giải toán nói riêng. Nếu học sinh có kiến thức cơ bản tốt, có tố chất thông minh mà không được bồi dưỡng, nâng cao tốt thì sẽ ít có hiệu quả hoặc không có hiệu quả. Đồng thời giáo viên lại phải lựa chọn đúng đối tượng học sinh vào bồi dưỡng và phải soạn thảo chương trình bồi dưỡng một cách hợp lí, khoa học và sáng tạo.

Thực tế cho thấy một số em có tố chất tốt nhưng ý thức học tập không cao, ẩu thả, thiếu nỗ lực cố gắng thường thi đạt kết quả thấp. Vì thế, để học sinh luôn cố gắng hết khả năng của mình, tôi thường xuyên tác động tới ý thức học tập của học sinh bằng nhiều hình thức khác nhau, như: Nêu gương các anh chị những năm trước, kể cho các em nghe một số kì thi tiêu biểu, tổ chức các trò chơi học tập nằm tạo hứng thú học cho học sinh; cho các em thấy được nếu nỗ lực cố gắng sẽ đạt giải cao trong các kì thi là niềm vinh dự tự hào không chỉ cho mình mà còn cho cả bố mẹ, thầy cô, bạn bè , trường, lớp,…; ngược lại nếu thiếu cố gắng một chút thôi có thể không đem lại kết quả gì.

b / Tầm quan trọng trong việc lựa chọn đúng đối tượng học sinh:

Giáo viên phải đánh giá học sinh một cách khách quan, chính xác, lựa chọn đúng đối tượng học sinh để bồi dưỡng. Việc lựa chọn đúng không chỉ nâng cao hiệu quả bồi dưỡng mà còn tránh được việc bỏ sót những em học giỏi, hoặc chọn nhầm những em không có tố chất theo học sẽ bị quá sức.

* Những căn cứ để lựa chọn:

+ Lựa chọn các đối tượng học sinh thông qua các giờ học:

– Những học sinh sáng dạ thường chú ý nghe giảng, hăng hái phát biểu ý kiến, ý kiến thường đúng và có sáng tạo.

– Cũng cần phân biệt với những em hăng hái nhưng không thông minh thì thường phát biểu trệch hướng dẫn dắt của giáo viên, có khi không đâu vào đâu.

– Ngược lại có những em tuy ít phát biểu nhưng khi gọi tên và yêu cầu trình bày thì những em này thường trả lời chính xác hoặc có những ý hay, thể hiện sự sáng tạo.

+ Lựa chọn dựa vào việc chấm, chữa bài:

Những em thông minh, chắc chắn thường có ý thức học tập tốt, làm bài đầy đủ, trình bày bài thường chặt chẽ, khoa học và thường có ý thức xung phong chữa bài tập cũ hoặc có ý kiến hay, góp phần cho bài tập phong phú hơn.

+ Lựa chọn thông qua các vòng thi kiểm tra:

– Để việc thi, kiểm tra, đánh giá đúng chất lượng học sinh thì ngoài việc thực hiện đúng quy chế thi cử như: sắp xếp chỗ ngồi (theo thứ tự a,b,c), giám sát chặt chẽ, quán triệt học sinh không được nhìn bài của bạn, đồng thời cũng không để cho bạn nhìn bài của mình, không trợ giúp cho bạn khi làm bài thi; cũng cần chú ý sắp xếp những em hàng ngày ngồi gần nhau thì đến khi thi hay kiểm tra phải ngồi xa nhau.

– Khi chấm bài thi, giáo viên cần phải vận dụng linh hoạt. Cần ưu tiên cho những bài làm có sự sáng tạo, trình bày bài khoa học.

– Tuy nhiên để việc thi cử, kiểm tra đạt hiệu quả, giáo viên cần phải ra đề trên cơ sở những dạng bài tập đã được ôn và cần có một bài khó, nâng cao hơn đòi hỏi học sinh vận dụng những kiến thức đã học để làm bài. Trên cơ sở đó, giáo viên đánh giá được những em nào có năng lực thực sự trong học tập.

– Để đánh giá một cách chính xác và nắm được mức độ tiếp thu cũng như sự tiến bộ của học sinh thì cần tổ chức thi, kiểm tra và sàng lọc qua nhiều vòng.

c / Lập kế hoạch và xây dựng chương trình bồi dưỡng:

Hiện nay, chương trình bồi dưỡng không có sách hướng dẫn chi tiết, cụ thể từng tiết, từng buổi học như trong chương trình chính khóa. Hơn nữa, hầu hết sách nâng cao, sách tham khảo hiện nay không soạn thảo theo đúng trình tự như chương trình học chính khóa, mà thường đi theo các dạng. Trong khi đó, các trường thường tổ chức học sinh vừa học chính khóa vừa phối hợp nâng cao. Vì thế soạn thảo chương trình bồi dưỡng là một việc làm hết sức quan trọng và rất khó khăn nếu như chúng ta không có sự tham khảo, tìm tòi và chọn lọc tốt.

Điều cần thiết là giáo viên cần phải nắm vững nội dung, chương trình học, cần phải soạn thảo nội dung dẫn dắt học sinh từ cái cơ bản của nội dung chương trình học chính khóa, tiến tới chương trình nâng cao (tức là, trước hết phải khắc sâu kiến thức cơ bản của nội dung học chính khóa, từ đó vận dụng để nâng cao dần).

Cần soạn thảo chương trình theo vòng xoáy: Từ cơ bản đến nâng cao, từ đơn giản đến phức tạp. Đồng thời cũng phải có ôn tập, củng cố.

Ví dụ: Cứ sau 2 đến 3 tiết củng cố kiến thức cơ bản và nâng cao thì cần có 1 tiết luyện tập, củng cố và cứ 6 đến 7 tiết thì cần có 1 tiết ôn tập hay luyện tập chung để củng cố khắc sâu.

* Cần soạn thảo 1 tiết học có những nội dung sau:

– Kiến thức truyền đạt (lí thuyết, ví dụ, …)

– Bài tập vận dụng.

– Bài tập về nhà luyện thêm (tương tự như bài ở lớp).

– Cần phải soạn thảo nội dung chương trình cho việc bồi dưỡng đảm bảo thời lượng: bài; Tuần; Học kì, Cả năm.

Tuy nhiên, việc soạn thảo chương trình còn tùy thuộc vào mức độ tiếp thu của từng học sinh (làm sao cho các em có thể tiếp thu được).

Cần giúp các em tổng hợp các dạng bài, các phương pháp giải. Vì hầu hết các em chưa tự mình tổng hợp được mà đòi hỏi phải có sự hướng dẫn, giúp đỡ của giáo viên.

Để các em vững vàng kiến thức, mở rộng được nhiều dạng bài tập thì mỗi dạng bài cần phải luyện tập nhiều lần, đưa ra nhiều cách giải. Đồng thời thỉnh thoảng phải củng cố, tổng hợp lại để khắc sâu.

Giáo viên cần phải đầu tư nhiều thời gian, tham khảo nhiều tài liệu, lập nich vào thi như học sinh để thấy được những vướng mắc có thể xảy ra đối với học sinh. Từ đó giáo viên có những định hướng đúng đắn, đúc rút và cô đọng nội dung chương trình bồi dưỡng, phù hợp với đối tượng học sinh và thời gian ôn luyện.

 

d / Phải thực hiện dạy như thế nào cho đạt hiệu quả?

Trước hết phải chọn lọc những phương pháp giải dễ hiểu nhất để hướng dẫn học sinh. Không nên máy móc theo các sách giải. Cần vận dụng và đổi mới phương pháp dạy học, tạo cho học sinh có cách học mới, không gò bó, không áp đặt, tôn trọng và khích lệ những sáng tạo mà học sinh đưa ra.

Những bài kiến thức mới, giáo viên cần lấy ví dụ và ra bài tập mang tính chất vui chơi để gây hứng thú học tập cho học sinh, đồng thời giúp các em ghi nhớ được tốt hơn.

Ví dụ: Ra bài toán vui, bài toán là một bài thơ, bài toán lấy tên học sinh hay đáp số là ngày, tháng có ý nghĩa, đáng ghi nhớ, hoặc lấy ví dụ mang tính chất thực tiễn, dễ hiểu, …

Có thể dạy cho học sinh theo phương pháp tổ chức trò chơi học tập giúp học sinh hứng thú hơn khi học.

Tuy nhiên những bài toán như thế, giáo viên cần tìm hiểu kĩ, thử và kiểm tra kết quả nhiều lần.

Giáo viên đưa các bài tập cho học sinh phải luôn theo hướng “mở”, có như vậy mới phát huy và làm phong phú sự sáng tạo của học sinh.

Hầu hết ở các bài luyện tập, giáo viên chỉ nên gợi mở để học sinh tự tìm ra cách giải, không nên làm thay học sinh, giải cho học sinh hoàn toàn hoặc để cho các em bó tay rồi chữa. Ngược lại, khi chữa bài, giáo viên cần phải giải một cách chi tiết, tỉ mỉ (không giải tắt). Đồng thời uốn nắn những sai sót và chấn chỉnh cách trình bày của học sinh một cách kịp thời. Cần theo dõi và chấm bài làm của học sinh hàng ngày thật kĩ để kịp thời phát hiện, uốn nắn những thiếu sót cho các em.

Một số bài để khắc sâu kiến thức cho các em, giáo viên có thể gợi ý để các em tìm ra nhiều cách giải, hiểu sâu sắc được bản chất của bài toán. Như thế vừa phát huy được tính độc lập sáng tạo của học sinh, vừa gây được hứng thú học tập với các em. Để giúp học sinh học tốt môn toán nói chung và môn toán, toán tiếng Anh ở Tiểu học nói riêng, giáo viên cần giúp học sinh nắm bắt và vận dụng quy trình giải một bài toán, phương pháp kiểm tra kết quả vào việc làm toán.

* Hướng dẫn học sinh chi tiết các bước giải một bài toán:

– Bước 1. Đọc kĩ đề (3 – 5 lần), xác định dự kiện đã biết và cái phải tìm rồi tóm tắt bài toán.

– Bước 2. Xác định bài toán thuộc dạng nào đã học, tìm tòi cách giải và giải ra giấy nháp.

– Bước 3. Thử lại kết quả.

– Bước 4. Ghi vào vở rồi đọc lại bài làm.

* Các phương pháp kiểm tra kết quả:

– So sánh với thực tiễn.

– Làm phép tính ngược lại.

– Giải theo cách khác.

– Thay kết quả vào để kiểm tra.

Tuy nhiên, đối với học sinh Tiểu học đặc biệt là đối tượng học sinh lớp 4, phương pháp trực quan hình ảnh vẫn là quan trọng hơn cả. Vì thế, đối với những bài có thể minh họa được bằng hình ảnh, hình vẽ, sơ đồ,…, giáo viên nên hướng dẫn học sinh vận dụng hình vẽ, sơ đồ hoặc lấy ví dụ thực tế đơn giản sẽ đem lại hiệu quả hơn.

Một số bài giáo viên cần hướng dẫn học sinh cách tính nhanh, tính nhẩm như : Đưa về một số nhân với một tổng, một số nhân với một hiệu, nhân nhẩm với 10; 11; 100; 1000; 0,1; 0,01; 0,001 …

Những bài chọn giá trị bằng nhau có thể hướng dẫn học sinh dự đoán: Chữ số giống nhau, cùng đơn vị, căn cứ chữ số tận cùng,… Còn đối với bài chọn theo thứ tự tăng dần thì cần hướng dẫn học sinh ngoài việc tính nhanh, tính nhẩm còn cần phải kẻ bảng ra giáy nháp thành hai mươi ô như trên máy, tính và ghi kết quả trên giấy nháp để lựa chọn chính xác hơn.

e / Phương pháp hướng dẫn học sinh thực hành giải toán tiếng Việt và toán Tiếng Anh trên mạng :

           Để giúp học sinh có kĩ năng thực hành giải toán tiếng Anh và toán tiếng Việt trên mạng Internet thì trước hết giáo viên cũng cần truy cập mạng và vào giải như học sinh. Từ đó nắm bắt cách thức vào thi, các dạng bài, cũng như những kĩ năng cần thiết để hướng dẫn học sinh. Đồng thời qua đó dự đoán những dạng bài mà học sinh có thể lúng túng ở chỗ nào để có biện pháp khắc phục.

Điều cần thiết là giáo viên cần thường xuyên tổ chức, theo dõi học sinh thực hành để nắm bắt những lỗi mà học sinh còn mắc phải để uốn nắn kịp thời. Thực tế cho thấy nếu không được uốn nắn kịp thời thì ngay cả những em giỏi lại dễ bị rớt ngay từ vòng cấp trường, bởi các em vẫn thường giải theo thói quen ở nhà là không cần phải tính toán kĩ, khi thi bị điểm thấp thì thoát ra thi lại để đạt điểm cao hơn.

Cần khuyến khích học sinh lập nhiều nich để thực hành thành thạo hơn.

Việc giúp các em vững vàng tâm lý trước và trong khi thi cũng rất quan trọng. Bởi các em học sinh Tiểu học thường “ bản lĩnh” thi cử chưa tốt. Một số em hồi hộp, lo sợ khi vào phòng thi; có em do tâm lý thi 1 bài chưa tốt đã nghĩ là mình hỏng rồi thế là buông xuôi, thậm chí bỏ những bài sau hoặc thoát ra. Vì vậy giáo viên cần giúp các em có tâm lý thoải mái trước khi vào phòng thi, đồng thời dặn dò các em hết sức bình tĩnh, tính toán kĩ càng, thi hết sức mình cho dù điểm có thấp.

f/ Hướng đãn học sinh nắm được từng dạng bài.

Giải toán Tiếng Anh và giải toán Tiếng Việt cùng chung nhau về kiến thức toán nhưng khác nhau ở ngôn ngữ vì thế khi tôi được phân công phụ trách câu lạc bộ giải toán tiếng Anh và giải toán tiếng Việt thì tôi đã chia ra các biện pháp ôn tập như sau:

* Đối với toán Tiếng Anh và toán Tiếng Việt

Biện pháp 1: Hệ thống các dạng bài:

Nhằm giúp các em nắm được các dạng bài những năm trước đã học để khi vào thực hành giải đỡ bỡ ngỡ hơn.

Đi vào dạng bài của từng vòng hướng dãn và giúp các em giải quyết các dạng bài còn vướng mắc.

Ví dụ: Khi tôi vào giải thì dự đoán được dạng bài mà học sinh có thể không hiểu. Tôi sẽ để cho các em tự giải quyết các bài tập bằng các nich ôn luyện sau đó tổng hợp lại các bài khó và hướng dẫn cho học sinh. Sau đó cho một số dạng tương tự và dạng mở rộng để các em khắc sâu kiến thức hơn.

Cho các em làm các bài test ở các dạng đã học giúp các em củng cố kiến thức.

Biện pháp 2: Cho học sinh thực hành trên máy:

Đối với đối tượng là học sinh lớp 4 thì các em sở dụng máy tính cũng chưa được thành thạo lắm (vì đây là năm thứ 2 các em được làm quen với máy tính trong trường Tiểu học). Nên tôi phối kết hợp với giáo viên dạy Tin học trong các buổi thực hành tại phòng máy giúp đỡ và hướng dẫn các em các thao tác sử dụng máy cho thành thạo.

Một số hình ảnh học sinh tham gia giải toán tiếng Việt và toán Tiếng Anh

 

 

Biện pháp 3: Hệ thống từ của các dạng toán

Vì từ ngữ trong môn toán Tiếng Anh là các từ ngữ chuyên ngành nên tôi phối hợp với giáo viên dạy Tiếng Anh trong trường giúp các em hệ thống các từ thuộc từng dạng bài để các em có thể dịch được các dạng toán và làm bài như toán Tiếng Việt.

Ví dụ:

The sum: Tổng

Add: Thêm

Different: Hiệu

Average: Trung bình cộng

Old numbers: Số lẻ

Even numbers: Số chẵn

Sequence: Dãy số

Consecutive number: Dãy số liên tiếp

Pair of numbers: Cặp số

The remainder: Số dư

Divisible by: Chia hết

Missing numbers: Số còn thiếu

Grades million: Lớp triệu

Grades thousand: Lớp nghìn

Grades unit: Lớp đơn vị

Ten of million: Hàng chục triệu

Right angle: Góc vuông

Parallelogram: hình bình hành

Rectangle: Hình chữ nhật

A square: Hình vuông

The area: Diện tích

The length: Chiều dài

Width: Chiều rộng

Square edge: Cạnh hình vuông

Height: Chiều cao

Botton length: Độ dài đáy

Midpoint: Trung điểm

Long: Dài

Longer: Dài hơn

Metter: Mét

Spending: Mua, sử dụng

Centimeter: Xăng-ti-mét

Each: Mỗi

Triangular: Hình tam giác

Quadrangle: Hình tứ giác

Circle: Hình tròn

Rhombus: Hình thoi

Digit number: Chữ số

Use: Sử dụng

Greatest: Lớn nhất

Smalleast: Nhỏ nhất

Numerator: Tử số

Denominator: Mẫu số

Epuivalent: Tương đương

Subtract: Hiệu

Express: Trừ

Quotient: Thương

Dividing: Chia

Among: Trong

Line: Đường thẳng

Polyline: Đường gấp khúc

Pairs of parallel: Cặp song song

Half primeter: Nửa chu vi

Increases: Tăng

Decrease: Giảm

Doubles: Gấp đôi

Adfacent: Liền kề

Hours: Giờ

Minutes: Phút

Second: Giây

Product: Tích

Times: Lần

Between: Giữa

Decade: Thập kỉ

Century: Thế kỉ

Less than: Ít hơn

Equal: Ngang bằng

Change: Chuyển

Ratio: Tỉ số

Fraction: Phân số

In how many ways: Bao nhiêu cách

Biện pháp 4: Sử dụng các trang tự luyện toán Tiếng Việt và toán Tiếng Anh, trang giải toán VMA (giải toán quốc tế) cho học sinh nắm được các dạng bài và mở rộng thêm các dạng kiến thức mới giúp các em có kiến thức vững vàng hơn.

Biện pháp 5: Phối kết hợp với gia đình

Hầu hết các gia đình đều có sử dụng máy tính, máy điện thoại cấu hình cao vì thế có thể vào giải trực tiếp trên các phương tiện đó giúp các em thao tác tốt hơn.

III. Hiệu quả do sáng kiến đem lại:

Qua những biện pháp cụ thể của tôi đã thu được những kết quả cụ thể như sau:

Năm học: 2015 – 2016:

+ Học sinh tham gia giải toán tiếng Việt trên mạng cấp trường đạt 18 học sinh.

+ Học sinh tham gia giải toán tiếng Anh trên mạng cấp trường đạt 15 học sinh.

+ Học sinh tham gia giải toán tiếng Việt trên mạng cấp huyện đạt 7 học sinh trong đó có nhiều học sinh đạt giải cao (300 điểm) đứng trong tốp đầu của Huyện. Có 1 giải Nhì và 6 giải khuyến khích.

+ Học sinh tham gia giải toán tiếng Anh trên mạng cấp huyện đạt 6 học sinh (trong đó có 1 giải Nhì và 5 giải khuyến khích).

Năm học: 2016 – 2017:

+ Học sinh tham gia giải toán tiếng Việt trên mạng cấp trường đạt 31 học sinh.

+ Học sinh tham gia giải toán tiếng Anh trên mạng cấp trường đạt 28 học sinh.

+ Học sinh tham gia giải toán tiếng Việt trên mạng cấp huyện đạt 11 học sinh trong đó có nhiều học sinh đạt giải cao đứng trong tốp đầu của Huyện. Có 1 giải Ba và 10 giải khuyến khích.

+ Học sinh tham gia giải toán tiếng Anh trên mạng cấp huyện đạt 7 học sinh (trong đó có 1 giải Nhất và 6 giải khuyến khích).

  1. Cam kết không sao chép hoặc vi phạm bản quyền.

          Trong hai năm qua tôi đã nghiên cứu qua tài liệu và áp dụng thực tế ở lớp 4B trong trường tôi và đã đạt được kết quả như trên từ đó tôi đã hoàn thành được sáng kiến của mình và không sao chép và vi phạm bản quyền của ai. Kính mong các đồng chí đóng góp ý kiến để sáng kiến của tôi hoàn thiện hơn.

          TÁC GIẢ SÁNG KIẾN                      (Ký tên)

 

 

 

                                                                                                        Đặng Thị Thanh