Làm thế nào để dạy tiết trả bài tập làm văn lớp 5 đạt hiệu quả cao?

Tháng Bảy 1, 2015 4:18 chiều

BÁO CÁO SÁNG KIẾN

Làm thế nào để dạy tiết trả bài tập làm văn lớp 5 đạt hiệu quả cao?

 

  1. ĐIỀU KIỆN HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN

Có thể nói rằng, Tiếng Việt là môn học có nhiều phân môn và chiếm nhiều thời gian học tập ở bậc Tiểu học nói chung, lớp 5 nói riêng.Trong đó phân môn tập làm văn được nhìn nhận với tầm quan trọng đặc biệt, vì nó mang tính thực hành cao. Qua một đề bài cụ thể thường trải qua các tiết học: Quan sát, lập dàn ý, làm văn nói (miệng), làm văn viết, trả bài viết (chữa bài). Xét về lô gic trình tự thì “trả bài viết” là tiết sau cùng, nhưng thiết thực nhất, cụ thể nhất để các em thấy được ưu, nhược điểm bài viết của mình, của bạn và học hỏi trao đổi lẫn nhau, tìm cách và biết cách sửa sai cùng tiến bộ. Mặt khác đây cũng chính là sự kiểm tra lại quá trình dạy môn Tiếng Việt nói chung, Phân môn tập làm văn nói riêng.

Song xem từ góc độ thực tiễn, có thể nói rằng có mấy giáo viên quan tâm chú ý tiết dạy “trả  bài viết” theo đúng yêu cầu, cũng như có mấy hoc sinh ý thức được qua tiết học đó các em học được gì? Hay chỉ trông mong để biết điểm (xem cô giáo nhận xét gì). Đã vậy, dạy chưa tốt, học chưa thông thì thử hỏi làm sao mang lại hiệu quả chất lượng được? Hệ quả là học sinh tiếp tục làm văn chưa tốt là điều không thể tránh khỏi. Đó là điều băn khoăn trăn trở trong tôi. Với tâm nguyện làm thế nào giúp các em học tốt tiết “ trả bài” đã thôi thúc tôi tìm ra biện pháp giảng dạy hữu hiệu. Đó là lí do tôi chọn đề tài “ Làm thế nào để dạy tiết trả bài tập làm văn lớp 5 đạt hiệu quả cao?”.

  1. MÔ TẢ GIẢI PHÁP
  2. Mô tả giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến

Phân môn Tập làm văn rèn cho học sinh các kĩ năng sinh sản ngôn bản. Nó có vị trí đặc biệt quan trọng trong dạy học tiếng mẹ đẻ bởi vì:  đây là phân môn sử dụng và hoàn thiện một cách tổng hợp các kiến thức và kĩ năng tiếng Việt mà các phân môn Tiếng Việt khác: Học vần, Tập Viết, Chính tả, Tập đọc, Luyện từ và câu  đã hình thành. Phân môn tập làm văn rèn cho học sinh kĩ năng sinh sản ngôn ngữ, nhờ đó Tiếng Việt không chỉ được xem xét từng phần, từng mặt qua từng phân môn mà trở thành một công cụ tổng hợp để giao tiếp. Như vậy, phân môn tập làm văn đã thực hện mục tiêu cuối cùng, quan trọng nhất của dạy học tiếng mẹ đẻ là dạy học sinh sử dụng được Tiếng Việt để giao tiếp, tư duy, học tập.

Trong chương trình tiểu học mới, các bài làm văn gắn với chủ điểm của đơn vị học. Song song với các tiết làm văn luyện nói, luyện viết thì tiết Tập làm văn trả bài có một vị trí quan trọng vì: Giờ trả bài có mục đích rèn cho học sinh kĩ năng kiểm tra, đánh giá, tự điều chỉnh bài viết. Đây là kĩ năng quan trọng trong hoạt động giao tiếp. Kĩ năng đối chiếu văn bản nói, viết của bản thân với mục đích giao tiếp và yêu cầu diễn đạt, sửa lỗi về nội dung và hình thức diễn đạt. Để có kĩ năng này, học sinh phải cần tập nhận xét văn bản nói hay viết của bạn, tự sửa chữa bài viết ở lớp, rút kinh nghiệm và tự chữa (hoặc viết lại) bài văn đã được giáo viên chấm, luyện tập, hình thành kĩ năng và thói quen tự điều chỉnh, tự học tập dể luôn luôn tiến bộ. Đây chính là khâu cuối cùng để hoàn thiên kĩ năng làm văn của học sinh.

Bên cạnh đó thực tế dạy học nhiều năm với những đối tượng khác nhau. Tôi thấy chất lượng bài Tập làm văn của các em có nâng cao đôi chút, có một số tiến bộ đáng kể nhưng mới chỉ là ở một số ít. Thêm vào đó người dạy còn chung chung, nặng về thuyết trình, áp đặt học sinh. Giáo viên hiểu vấn đề chưa thực sự kĩ càng và thậm chí coi nhẹ giờ Tập làm văn, đặc biệt là giờ trả bài.

Là một giáo viên trực tiếp dạy lớp 5, đồng thời là cầu nối giữa văn chương với cuộc sống của các em, nối giữa lí thuyết với bài tập thực hành … Cần phải có phương tiện nhất định phải chăng đó là vốn kiến thức của thầy, là phương pháp sư phạm của thầy. Để khắc phục tình trạng này, tôi nghĩ vấn đề chấm, trả bài Tập làm văn là vấn đề quan trọng cần phải đặc biệt quan tâm. So với các tiết dạy khác, tiết trả bài cần được giáo viên chuẩn bị công phu từ lúc chấm bài cho đến việc thiết kế bài dạy và tổ chức các hoạt động dạy học trên lớp. Giáo viên chấm bài tỉ mỉ, chu đáo và hướng dẫn học sinh chữa lỗi, học cách viết văn hay không chỉ giúp trẻ phát triển kĩ năng làm văn mà còn góp phần hình thành cho các em ý thức trách nhiệm, lòng tự trọng đối với sản phẩm tinh thần do chính mình tạo ra. Làm như vậy có nghĩa là chất lượng học môn Tập làm văn đã được thực sự nâng lên. Vì thế tôi chọn giờ trả bài Tập làm văn cho học sinh lớp 5 làm đề tài suy ngẫm cho mình.

  1. Mô tả giải pháp sau khi có sáng kiến:

Bản thân tôi thiết nghĩ muốn nói gì thì nói chất lượng học sinh vẫn là hàng đầu, là quan trọng nhất trong nền giáo dục. Có như vậy mới đáp ứng được yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá mà xã hội đang đòi hỏi. Chính vì vậy mục tiêu mới của giáo dục Tiểu học đã nhấn mạnh đến yêu cầu của giáo dục tiểu học, là phải góp phần đào tạo những người lao động linh hoạt, năng động, sáng tạo. Yêu cầu này đòi hỏi phải đổi mới toàn diện và đồng bộ giáo dục Tiểu học trong đó cần ưu tiên đổi mới phương pháp giáo dục dạy học.  Để thực hiện mục tiêu giáo dục mới và nâng cao chất lượng phổ cập giáo dục tiểu học. Bộ giáo dục đã  có một số văn bản chỉ đạo, hướng dẫn về đổi mới về nội dung và phương pháp dạy học ở Tiểu học . Vì vậy đứng trước tình hình và nhiệm vụ mà xã hội giao phó, bản thân tôi là người giáo viên tiểu học, tôi luôn học hỏi kinh nghiệm và chịu khó đào sâu suy nghĩ để tìm ra phương pháp giảng dạy tốt nhất giúp trò tiếp thu kiến thức dễ dàng nhất.  Đứng trước tình hình đổi mới phương pháp như vậy nhưng thực trạng hiện nay là gì?

2.1. Về sách giáo khoa và sách giáo viên:

           Phương pháp nêu ra mới chỉ là chung chung chưa cụ thể. Một vài năm

gần đây có xuất  hiện một số cuốn sách in những bài văn hay, những bài văn mẫu … và có đôi ba lời nhận xét ưu điểm và hạn chế. Song tiết trả bài vẫn chưa được quan tâm đúng mức, chưa có phương pháp hay. Đó chính là một trong những vấn đề bức xúc đối  với người dạy và người học.

2.2. Việc học của học sinh:

Qua thực tế dạy học: Tôi thấy chất lượng bài Tập làm văn của các em có nâng cao đôi chút, có một số tiến bộ đáng kể nhưng mới chỉ là số ít. Qua đó  tôi thấy còn một số tồn tại:

+ Đa số học sinh sau khi đọc tham khảo các bài văn mẫu, các bài văn hay, các em cũng thấy hay song không chỉ ra được cái hay để học tập vận dụng.

+ Một số học sinh, các em còn phải phụ thuộc vào các bài văn mẫu của thầy, của sách, dựa vào các đoạn, các ý trong cuốn: ” Để học tốt môn Văn – Tiếng Việt “, ” Tập làm văn ” hoặc ” Các bài văn hay “… thậm chí có em còn sao chép và nắp ghép một cách gượng gạo, gò ép.

+ Các em viết câu, dùng từ diễn đạt yếu, chưa biết sắp xếp ý, không biết lựa chọn những chi tiết, những hình ảnh hay để rồi hiểu và sử dụng đúng, hợp lý, lôgic; tức là các em chưa biết biến những kiến thức đã tiếp thu trong bài, trong giờ học vào một bài viết cụ thể vào ” sản phẩm ” của mình.

Phần lớn học sinh thụ động trong tiết học “chữa bài” (Trừ số học sinh khá giỏi), đơn giản là nhận vở để biết mình mấy điểm (Hoặc xem cô nhận xét gì).Đa số bài viết của hoc sinh mắc lỗi phổ biến là:

– Dùng từ chưa chính xác.

– Câu văn thiếu các thành phần ( CN, VN,…)

– Viết câu văn thiếu hình ảnh, ý nghèo, bố cục thiếu chặt chẽ…

– Sai nhiều lỗi chính tả.

2.3. Việc dạy của giáo viên:

Đại bộ phận giáo viên chưa chú tâm mấy đến tiết “ trả bài viết”, giảng dạy chung, đại khái cho xong tiết:

– Giáo viên ghi đề bài tập làm văn ( trả bài viết) lên bảng.

– Nêu lại ý trọng tâm của đề bài.

– Nhận xét chung bài làm của học sinh.

– Đọc một bài văn hay của học sinh làm.

-Trả bài cho học sinh cho điểm ghi vào sổ (Gọi học sinh đọc nhận xét).

Thêm vào đó người dạy còn chung chung, nặng nề về thuyết trình, áp đặt học sinh và chưa thực sự quan tâm đặc biệt là giờ trả bài. Thậm chí chưa nắm chắc yêu cầu về kiến thức, kỹ năng của tiết học theo chuẩn.

Thực tế qua khảo sát các giờ trả bài Tập làm văn hầu như các giáo viên ít đầu tư thời gian ghi lại vào sổ tay văn học những từ hay, ý đẹp hay những lỗi sai của học sinh về mọi phương diện. Chính vì thế người giáo viên không sửa được cách viết văn hay và dùng từ chính xác cho học sinh. Học sinh trong giờ trả bài chỉ muốn biết điểm và coi như vậy là xong. Một số giáo viên dạy còn đơn giản hoá, soạn bài chung chung.

Trong giờ trả bài hầu hết giáo viên chưa khai thác hết yêu cầu giờ trả bài. Có giờ nặng về nêu ưu điểm nên học sinh chưa nắm được hết cái sai của mình và lần sau lại mắc. Có giờ nặng về nêu khuyết điểm nhưng lại rất chung chung cho nên gây một không khí thiếu tích cực trong giờ học và quả nhiên giáo viên làm việc nhiều còn học sinh thì thụ động tiếp thu. Như vậy kết quả đạt được của giờ trả bài rất hạn chế. Vì thế nó cũng là một nguyên nhân không nhỏ khiến học sinh chưa thích học môn Tập làm văn. Để áp dụng vào bài tập làm văn của học sinh các em cảm thấy lúng túng trước thực tế đúng sai của bài làm.

Tóm lại: Để nâng cao chất lượng môn Tập làm văn nói riêng và phân môn tiếng Việt nói chung người giáo viên phải luôn luôn đổi mới phương pháp giảng dạy tốt nhất để trò dễ tiếp thu hơn.

Xuất phát từ những nhận thức trên cùng với quá trình học tập và dạy học cho các em, với những đối tượng học sinh khác nhau  (yếu, trung bình, khá, giỏi) và các trình độ khác nhau. Tôi quyết định đi sâu vào vấn đề chấm, trả bài cho học sinh lớp 5. Vì vậy khi có ý định  viết sáng kiến này tôi đã phỏng vấn đồng nghiệp của mình, phỏng vấn học sinh đồng thời khảo sát và phân loại học sinh nhằm mục đích nắm được đối tượng của mình và đề ra được biện pháp cụ thể nhất. Trước tiên tôi trao đổi với đồng nghiệp xem họ dạy tiết Tập làm văn trả bài như thế nào? Khi dạy tiết này có thuận lợi và khó khăn gì?  Sau đó tôi đã phỏng vấn học sinh hai lớp 5A, 5B kết quả như sau.

+ Số học sinh rất thích học môn tiếng việt chiếm 5% (tập trung vào những em khá giỏi và có năng khiếu).

+ Số học sinh thích học môn  Tiếng Việt chiếm 30%.

+ Số học sinh nắm phương pháp học môn Tiếng Việt còn hời hợt không thuộc, hoặc thuộc rất ít thơ văn, chất lượng bài viết chưa cao chiếm 65% (những em này thể hiện sự học thiên lệch về môn toán và học trung bình, yếu kém ở các môn ). Tôi xem vở tập làm văn của ba lớp  năm: 5A, 5B thì thấy chất lượng bài viết của các em chưa đạt kết quả như mong muốn, số lượng bài đạt điểm khá giỏi chưa nhiều, đặc biệt nhiều em diễn đạt còn lủng củng, còn  sai lỗi chính tả đặc biệt là lỗi chính tả thông thường. Tôi dự giờ của hai lớp 5A, 5B thì thấy giáo viên chưa thực sự đầu tư thời gian  nhiều cho tiết dạy, thầy dạy còn chung chung, nặng về thuyết trình, chưa gây được không khí sôi nổi cho tiết học. Đồng thời tôi tiến hành khảo sát chất lượng của hai lớp: 5B và 5A Tôi cho cả hai lớp cùng làm chung một đề văn.

Đề bài: Em hãy tả ngôi trường thân yêu đã gắn bó với em trong nhiều năm qua.

Chất lượng khảo sát đầu năm của lớp 2 là tương đương nhau.

Đặc biệt qua bài viết của các em tôi còn nhận thấy:

*) Về nội dung bài Tập làm văn

– 10- 15% học sinh viết văn có bố cục rõ ràng, bài viết cô đọng xúc tích.

– 50% học sinh thực hiện được yêu cầu của đề nhưng diễn đạt ý còn chưa rõ ràng, lôgic.

– 10% học sinh còn đôi chỗ dùng từ, đặt câu, liên kết câu, đoạn  chưa đạt. Văn viết gò bó thiếu tự nhiên, ít sáng tạo.

– 25% học sinh thì sao chép nguyên bản bài của bạn hoặc văn mẫu. Thậm chí có em bài viết còn khô khan, rời rạc, lủng củng, vay mượn.

*) Về kĩ năng:

– Trong bài văn của các em gần như cả bài nhiều em không có một dấu chấm câu.

– Bài viết sai lỗi chính tả, đặc biệt là lỗi chính tả thông thường, bên cạnh những lỗi chính tả vốn có của địa phương 50%.

– Diễn đạt vụng, luẩn quẩn, tối nghĩa do dùng từ viết sai, sai về nội dung do dùng từ tối nghĩa 25%.

Sở dĩ chất lượng bài viết của các em chưa cao do những nguyên nhân sau:

+ Học sinh đọc sách ít, vốn kiến thức ít.

+ Không nắm chắc yêu cầu của đề bài ra.

+ Chưa thấy được hết cái đích cần đạt.

+ Chưa biết cách liên kết câu, ý, đoạn, bài.

+ Chưa ham học nên chưa chú trọng rèn luyện kỹ năng.

+ Do phương pháp dạy của giáo viên khiến học sinh thụ động tiếp thu, giáo viên chưa động viên được học sinh.

+ Do các tiết học (phân tích dàn bài, lập dàn ý, chia đoạn, viết đoạn) chưa ăn khớp với nhau, chưa có tính hệ thống chặt chẽ.

+ Việc chấm bài của giáo viên cũng chưa chỉ ra được lỗi của học sinh một cách khoa học, nhất quán.

+ Việc kiểm tra học sinh sửa lỗi trong vở Tập làm văn trên lớp cũng như ở nhà của giáo viên còn  hạn chế.

+ Ngay việc tự học, tự nâng cao kiến thức cũng như xây dựng một thiết kế tiết dạy trả bài của một số giáo viên còn chưa đúng mức. Để khắc phục những tồn tại trên, giúp các em thấy được đúng sai, vấn đề chấm, trả bài. Tập làm văn cần phải được tiến hành ngay, nghiêm túc từ ban đầu, từ bài đầu tiên. Tức là giờ trả bài thầy phải nêu ra được cái đúng, cái sai cụ thể của các em. Đặc biệt là phải dứt điểm từng loại lỗi.

Tóm lại: Việc khảo sát chất lượng đầu năm để phân loại học sinh là biện pháp cần làm ngay để từ đó giáo viên có biện pháp cụ thể, chi tiết, sát đối tượng hơn nữa trong giảng dạy nói chung, trong mục đích tiến hành giờ trả bài Tập làm văn nói riêng.

  1. Nội dung và biện pháp thực hiện:

3.1- Bước chuẩn bị của giáo viên:

Đây là khâu cực kì quan trọng, khâu này sẽ quyết định 90% giờ dạy thành công hay không? Chính vì thế giáo viên phải:

– Chấm bài kĩ lưỡng, nghiêm túc, chu đáo. Mỗi bài làm của học sinh đánh giá bằng con điểm hoặc nhận xét xong phải có lời nhận xét ưu nhược một cách cụ thể, rõ ràng, tránh tình trạng chấm qua loa, đọc lướt qua, áng chừng, nhìn chữ cho điểm. Đọc lời nhận xét của giáo viên, học sinh phải hiểu được vì sao bài làm của mình (hoặc bạn) chỉ đạt điểm … hay … điểm.

– Trong quá trình chấm bài, chọn ra vài bài tiêu biểu nhất của lớp để giúp các em tham khảo. Chuẩn bị câu hỏi gợi mở (dễ hiểu, logic, sát đối tượng học sinh).

Sử dụng phương pháp dạy học nêu vấn đề (chính) kết hợp giảng giải.

– Giáo viên phải phân ra được các ưu điểm chính, các lỗi phổ biến điển hình theo từng loại lỗi mà học sinh hay mắc phải để chữa cho học sinh.

– Dự kiến các cách chữa lỗi sẽ nêu ra ở lớp, tỉnh táo và có cách đánh giá kịp thời các đề xuất chữa lỗi của học sinh nằm ngoài dự kiến.

– Các câu, từ, đoạn văn đưa ra không nên chữa nhiều lỗi khác nhau tốt nhất là có một hoặc hai lỗi. Lỗi đưa ra chữa phải là lỗi thực sự và có tính chất tiêu biểu

– Khi chữa lỗi phải ghi rõ các đề mục lớn xác định nội dung từng bước thực hiện trên lớp. làm như thế bài dạy rõ ràng, việc tiếp nhận của học sinh thuận lợi hơn.

3.2. Các bước tiến hành giờ dạy:

Bước 1: Xác định lại trọng tâm của đề bài ( thể loại, ý chính): giáo viên hướng dẫn học sinh xác định trong tâm đề bài mặc dù các tiết trước đã làm nhưng không thể xem nhẹ được.

Bước 2: Nhận xét đánh giá chung ưu, nhược bài làm lần này của học sinh. Nêu số bài làm được xếp loại: giỏi – khá – trung bình – yếu đẻ khi trả bài các em tự hình dung, đánh giá mình thuộc loại nào mà có hướng rèn luyện tiếp.

Bước 3: Phân tích, sửa chữa lỗi:

Đây là khâu quan trọng hàng đầu trong tiết dạy, học sinh có nhận được cái sai, cái chưa được, co tìm được cách sửa chữa hợp lý không chính là ở khâu này. Vì vậy đòi hỏi cao ở người thầy vể nhiều mặt, chẳng những về trình độ chuyên môn nghiệp vụ, mà còn cả kiến thức văn hóa, vốn kiến thức Tiếng Việt và đặc biệt là năng lực sư phạm (thông qua hệ thống câu hỏi dẫn dắt gợi mở – xử lý tình huống sư phạm) giúp hoc sinh tự phát hiện và cùng nhâu tìm cách sửa chữa đúng. Giáo viên hướng dẫn học sinh chữa lỗi từ đơn giản đến phức tạp.

Trò tự tìm lỗi sai trong bài của mình.  Nghĩa là thầy không nên nêu ra cái sai cụ thể trên bảng, làm như vậy học sinh bị thụ động mặc dù cái sai đó thầy đã nắm được chắc và ghi trong sổ chấm trả, nhận xét về bài làm rồi. Về vấn đề này thầy có thể chủ đạo gợi mở làm cho học sinh phải động não bằng cách như sau:

– Gọi học sinh (học sinh này bài văn có câu sai, lỗi sai cô giáo đã ghi trong bài) và yêu cầu em hãy đọc cho cô đoạn văn sai của em mà cô đã gạch trong vở.

– Học sinh đọc cô ghi và lại hỏi tiếp

+ Em có nhận xét gì về câu (đoạn) văn em vừa đọc

+ Em định trình bày ý gì? Nội dung gì? Nội dung ấy đã toát lên chưa?

+ Theo em phải sửa lại như thế nào?

– Nếu học sinh đó vẫn chưa làm  được thì giáo viên tiếp tục hỏi học sinh khác, kết hợp với sự gợi ý của giáo viên. Làm như vậy kết hợp hỏi, gợi tìm với giáo cụ trực quan (ghi bảng) nó tác động vào tư duy của các em, bắt buộc tư duy phải hoạt động. Làm việc như vậy các em sẽ nhớ rất lâu. Các em thấy cách viết ấy là sai, và phải biết sửa lại như thế nào?

Qua việc dự hội thi giáo viên giỏi của một số giáo viên tôi thấy chỉ dừng lại ở chỗ sửa. Học sinh tỏ ra lúng túng và hoang mang. Vì thế các em chỉ biết là cô bảo sai, nhưng sai như thế nào? Chữa lại ra sao? Tại sao như thế? Thì các em rơi vào bế tắc. Đây cũng chính là điều tôi tiến hành làm, gợi mở để các em tự sửa lỗi cho mình rồi nhận xét, tổng kết lại.

Ví dụ: Với từng loại lỗi cụ thể giáo viên gợi mở để giúp các em tìm ra cách sửa.

* Chữa lỗi về làm bài không đúng yêu cầu (lạc đề):

Ví dụ: Tả hoạt động của người em yêu mến. Học sinh lại đi sâu tả hoạt ngoại hình mà không chú ý tới tả hoạt động. Loại lỗi này học sinh ít mắc. Nhưng với học sinh mắc lỗi, tôi thường giúp xác định lại yêu cầu của đề rồi viết lại bài văn đó theo yêu cầu đã nhận ra

* Chữa lỗi về bố cục:

Trước tiên giáo viên hỏi về bố cục thông thường của một bài văn, sau đó cho học sinh đối chiếu với bài của mình xem đã đủ về bố cục chưa? Nếu chưa đủ thì còn thiếu phần nào? Em cần sửa ra sao? Giáo viên hướng dẫn học sinh chữa lỗi về mở bài, kết bài (Theo cách đã học), về thân bài (sắp xếp ý theo trình tự đã học một cách hợp lí). Sau đó tổ chức cho học sinh tiến hành sửa lỗi cá nhân và trao đổi bài cho nhau để cùng kiểm tra trao đổi kinh nghiệm. Ngoài ra, ở phần này học sinh thường không biết tách giữa mở bài với thân bài hoặc giữa thân bài với kết bài. Vì vậy khi sửa lỗi về bố cục, giáo viên cần gợi học sinh nhớ lại dàn ý của bài. Từ đó học sinh sẽ tách được đoạn văn viết lẫn hoặc viết được đoạn văn còn thiếu trong bài văn.

* Chữa lỗi chính tả: Chữa lỗi chính tả cho học sinh cần chú ý về hai mặt: Ngữ âm, ngữ nghĩa.

Ví dụ: Khuôn mặc

Xét về âm: tiếng ‘ mặc’ sai phần vần – sai âm cuối ( âm cuối phải viết t ).

Sửa thành ‘khuôn mặt’. Xét về nghĩa: tiếng ‘mặc’: động từ chỉ hành động. Tiếng “mặt” là danh từ chỉ sự vật. Vậy: “ khuôn mặt” âm cuối của tiếng mặt phải viết âm “t”

*  Chữa lỗi về dùng từ:

Giáo viên đưa câu văn học sinh dùng từ thiếu chính xác ( có thể ghi trước ở bảng phụ). Học sinh đọc câu văn và nhận xét.

Giáo viên dùng câu hỏi gợi mở giúp học sinh tự phát hiện ra từ dùng thiếu chính xác, tránh áp đặt.

Ví dụ 1: Qua đề bài “ Em hãy tả tính tình và hình dáng của người bà mà em kính yêu” Có học sinh viết: “ Bà của em có đôi mắt hiền lành”.

Hướng dẫn học sinh sửa: Giáo viên không vội khẳng định từ dùng thiếu chính xác mà dùng câu hỏi gợi ý để học sinh phát hiện ( lưu ý học sinh yếu, trung bình).

Từ “ hiền lành” dùng chưa chính xác, vì “hiền lành” là tính từ nói về tính tình của người, vật nói chung, còn ở đây tả đôi mắt của người bà – giúp học sinh tìm từ thích hợp thay thế “hiền từ”.

Viết lại câu: Bà em có đôi mắt hiền từ.

– Hoặc khi tả mái tóc của bà có học sinh viết:

Ví dụ 2: Mái tóc của bà tôi bạc phếch theo thời gian.

Giáo viên yêu cầu học sinh chỉ ra từ sai: “bạc phếch”

Giáo viên yêu cầu học sinh tìm từ thay thế: bạc trắng, bạc phơ…

Sau khi học sinh tìm từ thay thế, tôi lưu ý học sinh cách sửa từ phải chú ý đến văn cảnh, câu văn. Trong trường hợp này từ “bạc trắng” là dùng hợp lý với ngữ theo thời gian.

– Hoặc qua đề bài “Tả chú gà trống”

Có học sinh viết:

Ví dụ 3: “Chú gà trống vỗ cánh bành bạch”.

Xét về góc độ ngữ nghĩa, cú pháp thì câu hoàn toàn đúng, song từ “bành bạch” chỉ cho ta nghe âm thanh khi chú gà trống vỗ cánh, nhưng chưa toát lên được vẻ oai vệ của chú gà trống qua đôi cánh.

Giáo viên gợi mở giúp học sinh tìm được từ thay thế “phành phạch” vừa gợi tả âm thanh vừa gợi cho ta thấy hình ảnh đôi cánh của chú gà trống vừa mạnh vừa khỏe.

Viết lại câu: Chú gà trống vỗ cánh phành phạch

*.Chữa lỗi câu:

Lỗi về câu có rất nhiều dạng, song  khi chữa giáo viên không thể chữa dàn trải, vì thời gian có hạn. Cần lựa chọn từng loại sai để sửa, lỗi khác dành vào tiết sau, có kế hoạch từng bước chắc chắn.

Ví dụ 1: “Tả một người bạn tốt được nhiều người yêu quý”.

Có học sinh viết: “Bạn Hòa thương yêu”.

Giáo viên dung câu hỏi gợi mở giúp học sinh phát hiện lỗi sai của câu là chưa đủ thông tin, chưa rõ nghĩa bạn Hòa thương yêu ai?

Học sinh bổ sung: Bạn Hòa thương yêu mọi người: các em nhỏ tật nguyền, chú bộ đội,…

– Một ví dụ khác:

“Tả chiếc cặp của em”

Có học sinh viết: Em rất thích chiếc cặp làm cho sách vở em khỏi ướt.

Giáo viên dùng câu hỏi dẫn dắt:

Cái gì làm cho sách vở em khỏi ướt? (chiếc cặp: chủ ngữ)

Viết câu: Em rất thích chiếc cặp, chiếc cặp làm cho sách vở của em khỏi ướt.

Vậy có thể thay thế từ “chiếc cặp” bằng từ nào?

Học sinh tìm được từ: Nhờ nó, vì nó.

Viết lại câu:  Em rất thích chiếc cặp, nhờ nó (vì nó)  làm cho sách vở của em khỏi ướt.

Tóm lại: Trong bước phân tích sửa chữa lỗi có thể theo trình tự sau:

Giáo viên chọn từ, câu sai để sửa chữa (có thể ghi trước ở bảng phụ).

– Học sinh đọc 1-3 em để chú ý, hiểu.

– Giáo viên dùng hệ thống câu hỏi gợi mở:

+ Học sinh làm việc theo nhóm, cặp, cá nhân (tùy tình hình cụ thể)

+ Học sinh tự phát hiện ra lỗi và tìm cách sửa được lỗi.

– Giáo viên nhận xét, biểu dương sự tiến bộ của các em.

Tóm lại: Hệ thống câu hỏi dành cho phần này là làm cho học sinh chỉ ra được.

– Câu sai ở đâu?

– Lý do sai?

– Nêu cách sửa.

Và đặc biệt với phần chữa lỗi bao giờ tôi cũng đảm bảo chữa từ lỗi dễ, lỗi đơn giản đến những lỗi khó, phức tạp.

Trong một giờ trả bài  

1- Chữa lỗi về bố cục.

2- Chữa lỗi về chính tả

3- Chữa lỗi về cách dùng từ

4- Chữa lỗi về  câu, về đoạn văn, cách diễn đạt nội dung.

Về cách diễn đạt, nó là một loại lỗi bao quát nhiều vấn đề. Cho nên cần sắp xếp nó ở bài tập thứ tư trở đi nó thuộc câu, đoạn, lỗi khó. Đôi khi chỗ này phải kết hợp với phương pháp diễn dịch, giảng giải để làm sáng tỏ vấn đề cho học sinh.

Song song với việc chữa lỗi và đọc cho học sinh nghe những câu văn hay, đoạn văn hay để giúp các em học tập. Đồng thời người giáo viên còn phải hướng dẫn các em biết cách lựa chọn chi tiết diễn đạt bằng câu văn có hình ảnh và sử dụng một số biện pháp tu từ đã học để giúp các em những bài viết cô đọng, giàu hình ảnh.

Ví dụ 1: Khi tả mái tóc, khuôn mặt:

– Mái tóc dài mượt mà buông thả thướt tha như dòng suối.

– Mái tóc đen nhánh mượt mà như dòng suối ôm lấy khuôn mặt trái xoan hồng hào của cô, thật dễ mến.

Hoặc khi tả hàm răng, nước da, giọng nói tính hình thì giáo viên hướng dẫn các em:

– Hàm răng trắng đều như hạt bắp.

– Nước da trắng như trứng gà bóc.

– Cô hiền như cô Tấm trong truyện cổ tích.

– Giọng cô nói êm dịu như lời mẹ ru.

Ví dụ 2: Khi tả về vẻ đẹp của dòng sông quê hương:

–  Nhìn từ xa, dòng sông như một dải lụa hiền hoà ôm ấp làng xóm quê em.

–  Dòng sông Kinh Thầy chảy hiền hoà, chở nặng phù sa…

Nói tóm lại: Muốn nâng cao chất lượng học Tiếng Việt mà chất lượng văn lại là chính chất lượng bài Tập làm văn của học sinh thì ta cần phải coi trọng đặc biệt là giờ trả bài. Vấn đề chữa lỗi giáo viên phải coi trọng nguyên tắc “thầy chủ đạo, trò chủ động” phải kết hợp một cách linh hoạt các phương  pháp của quá trình dạy học.

* Lưu ý chung trong quá trình phân tích, sửa lỗi:

– Định hướng, dẫn dắt bằng hệ thống câu hỏi phù hợp, sát đối tượng học sinh (chú trọng học sinh nhận thức chậm) giúp các em tự phát hiện lỗi và tìm được cách sửa lỗi.

– Có thể chữa bằng nhiều cách (văn học vốn đa dạng, phong phú).

– Tránh áp đặt, nên biểu dương, động viên, khích lệ sự tìm tòi, sáng tạo của học sinh là chính. Có như thế mới khơi gợi sự hứng thú học tập và tránh tâm lý mặc cảm, tự ti học văn kém trong học sinh.

*. Nhằm giúp học sinh có vốn từ nhất định để học tốt, giáo viên động viên các em nên có sổ tay “vốn từ”, hình thành thói quen khi gặp từ hay là ghi ngay vào sổ và thường xuyên đọc sách báo thiếu nhi, sách những bài văn chọn lọc dành cho học sinh tiểu học… đồng thời có kế hoạch kiểm tra hàng tháng, biểu dương sổ tay có nhiều từ mới.

Bước 4:  Củng cố, đọc bài hay:

Giáo viên chọn đọc bài theo kiểu:

  1. a) Đọc câu hay, ý sáng tạo:

Tôi thường nhặt ra trong bài của học sinh những câu hay, sử dụng tốt biện pháp nghệ thuật để đọc và phân tích (có thể có bài viết chưa tốt nhưng bài viết đó lại có câu hay và những câu này được đánh dấu sẵn trong quá trình chấm bài).

Ví dụ: “Nhanh thật, mới năm trước em về, tóc ông chỉ điểm vài sợi bạc. Vậy mà năm nay, mái tóc ấy chẳng còn mấy sợi đen”.

Câu văn đã cho thấy khả năng quan sát tinh tế và khả năng dùng từ tốt. Em đã viết câu văn hay, rõ ý, sinh động, rất đúng cú pháp.

Năm trước – Điểm vài sợi bạc (rất ít)

Năm nay – Chẳng còn mấy sợi đen (rất ít)

Hai cái ít được dùng từ rất đắt: điểm, chẳng còn mấy để nói lên cái nhiều: Tóc bạc (tuổi già đã đến với ông quá nhanh).

  1. a) Đọc đoạn hay:

Với đoạn hay, tôi chọn  đoạn có cấu trúc chặt chẽ, ý liên kết, biết sử dụng biện pháp tu từ.

Với quá trình phân tích đoạn như: Cấu trúc đoạn – Đề tài nhỏ- cách viết câu được phân tích kĩ cho học sinh nắm được cái hay, cái đúng cần học tập.

  1. b) Đọc bài hay:

Đây là phần học mà học sinh hứng thú nhất nên tôi thường tự đọc và chọn cách đọc so sánh:

1 bài hay của học sinh giỏi

1 bài hay của học sinh khá

1 bài hay của học sinh trung bình.

Bước 5:  Hướng dẫn học sinh chọn viết một đoạn văn trong bài làm cho tốt hơn (Đây là bước dành cho học sinh khá, giỏi)

Tuỳ điều kiện thời gian cho phép, giáo viên có thể hướng dẫn học sinh thực hiện yêu cầu này tại lớp hoặc luyện tập thêm ở nhà để nâng cao kĩ năng viết văn. Đoạn văn học sinh chọn để viết lại cho tốt hơn có thể là đoạn văn còn mắc lỗi (chính tả, dùng từ, đặt câu…, đoạn viết chưa hay).

Ví dụ: Trong một giờ trả bài

1- Chữa lỗi về bố cục.

2- Chữa lỗi về chính tả

3- Chữa lỗi về cách dùng từ

4- Chữa lỗi về  câu, về đoạn văn, cách diễn đạt nội dung.

Về cách diễn đạt, nó là một loại lỗi bao quát nhiều vấn đề. Cho nên cần sắp xếp nó ở bài tập thứ tư trở đi nó thuộc câu, đoạn, lỗi khó. Đôi khi chỗ này phải kết hợp với phương pháp diễn dịch, giảng giải để làm sáng tỏ vấn đề cho học sinh.

* Song song với việc chữa lỗi và đọc cho học sinh nghe những câu văn hay, đoạn văn hay để giúp các em học tập. Đồng thời người giáo viên còn phải hướng dẫn các em biết cách lựa chọn chi tiết diễn đạt bằng câu văn có hình ảnh và sử dụng một số biện pháp tu từ đã học để giúp các em những bài viết cô đọng, giàu hình ảnh.

Ví dụ 1: Khi tả mái tóc, khuôn mặt:

– Mái tóc dài mượt mà buông thả thướt tha như dòng suối.

– Mái tóc đen nhánh mượt mà như dòng suối ôm lấy khuôn mặt trái xoan hồng hào của cô, thật dễ mến.

Hoặc khi tả hàm răng, nước da, giọng nói tính hình thì giáo viên hướng dẫn các em:

– Hàm răng trắng đều như hạt bắp.

– Nước da trắng như trứng gà bóc.

– Cô hiền như cô Tấm trong truyện cổ tích.

– Giọng cô nói êm dịu như lời mẹ ru.

Ví dụ 2: Khi tả về vẻ đẹp của dòng sông quê hương:

–  Nhìn từ xa, dòng sông như một dải lụa hiền hoà ôm ấp làng xóm quê em.

–  Dòng sông Kinh Thầy chảy hiền hoà, chở nặng phù sa…

Nói tóm lại: Muốn nâng cao chất lượng học Tiếng Việt mà chất lượng văn lại là chính chất lượng bài Tập làm văn của học sinh thì ta cần phải coi trọng đặc biệt là giờ trả bài. Vấn đề chữa lỗi giáo viên phải coi trọng nguyên tắc “thầy chủ đạo, trò chủ động” phải kết hợp một cách linh hoạt các phương  pháp của quá trình dạy học.

III. Hiệu quả do sáng kiến đem lại:

  1. Kết quả:

Qua việc thực hiện tiến trình cải tiến bài giảng, thiết kế bài dạy, chấm bài và lên lớp, với sự vận dụng linh hoạt và phương pháp phát huy trí tuệ và trí lực của học sinh đã nêu, đối chiếu với kết quả khảo sát đầu năm thì chất lượng được tăng lên rõ rệt.

– Số bài đạt điểm khá giỏi tăng 36 %

– Không còn bài đạt điểm dưới 5.

Đồng thời đối chiếu kết quả bài làm giữa hai lớp đối chứng và thực nghiệm thì chất lượng của lớp thực nghiệm được nâng lên rõ rệt (nhìn vào bảng thống kê kết quả, khảo sát ta sẽ thấy rõ).

Tôi tiếp tục đối chiếu với các  bài viết hàng tháng và qua các bài khảo sát chất lượng định kì các lần kiểm tra  môn Tiếng Việt thì bài làm của lớp 5B tôi chủ nhiệm đã có nhiều tiến bộ.

Cụ thể:

– Đầu năm   –    88%

– Cuối kỳ I  –    96%

– Cuối năm  –   100%

Về chất lượng bài viết trong năm so với lúc đầu năm khảo sát tôi thấy kết quả đã được nâng lên. Chứng tỏ việc áp dụng phương pháp mới vào giảng dạy của tôi đã đạt chất lượng tốt. Việc vận dụng phương pháp nêu vấn đề kết hợp với phương pháp gợi mở và cách tổ chức giờ học khoa học linh hoạt, phù hợp với đặc điểm, khả năng tiếp thu của từng học sinh đã đem lại kết quả tốt. Việc vận dụng phương  pháp ” lấy học sinh làm nhân vật trung tâm “và “ dạy theo hướng phân hoá các đối tượng học sinh” kết hợp phương pháp gợi mở và cách thức tổ chức giờ học khoa học, linh hoạt phù hợp với đặc điểm của từng học sinh đã đem lại kết quả tốt. Từ đó kính thích học sinh suy nghĩ khi gặp tình huống có vấn đề cần giải quyết làm phát triển khả năng tư duy của trẻ, giáo viên biết cách tổ chức, hướng dẫn học sinh tự lĩnh hội tri thức hoàn toàn phù hợp với chủ trương đổi mới của ngành giáo dục đào tạo nước ta hiện nay. Việc này góp phần đào tạo học sinh thành những người lao động mới. Thông qua các  hội thi giáo viên giỏi, các buổi chuyên đề và đặc biệt qua các tiết dạy của tôi,. Hội đồng sư phạm nhà trường đã họp và đánh giá, nhận xét về việc áp dụng phương pháp giảng dạy mới trong dạy Tập làm văn là đạt chất lượng tốt. Việc đánh giá của hội đồng sư phạm chứng tỏ rằng:

1 – Việc dạy Tập làm văn trả bài cho học sinh lớp 5 bằng cách để các em tự tìm ra cái sai của mình kết hợp với hệ thống câu hỏi dẫn dắt, gợi mở của giáo viên giúp các em tiếp thu bài tốt hơn, nhớ lâu hơn những lỗi sai để lần sau các em không bị mắc lại nữa.

2  – Học sinh chủ động tiếp thu kiến thức để từ đó rèn luyện được kỹ năng nghe  – nói  – viết.

3  – Giáo viên lên lớp và soạn bài không nhất thiết phải phụ thuộc hoàn toàn vào sách hướng dẫn mà người giáo viên cần suy nghĩ tìm phương pháp giảng dạy mới cho từng bài học phù hợp với sự nhận thức của học sinh lớp mình dạy và tuân thủ theo cuốn chuẩn kiến thức kĩ năng đang hiện hành.

4 – Việc chuẩn bị chu đáo và đầy đủ của giáo viên và học sinh trước mỗi bài học là rất cần thiết góp phần làm cho giờ học thêm sôi nổi đạt kết quả cao. Thông qua giờ học cần xây dựng phong cách học cho học sinh: Không nói leo, không nhìn bài của bạn, không lơ là trong học tập, suy nghĩ, tìm tòi cái mới, độc lập suy nghĩ và sáng tạo trong học tập.

5 – Việc dạy tiết Tập làm văn trả bài là vấn đề không đơn giản như  quan niệm của một số đồng chí giáo viên mà nó đòi hỏi sự suy nghĩ, tìm tòi, sáng tạo trong dạy học của giáo viên.

  1. Những khó khăn trong việc giải quyết nội dung:

2.1. Học sinh:

– Vốn kiến thức của các em về môn Tiếng việt còn hạn chế nên các em chưa có thể tự sửa đựoc cái sai của mình.

– Ngôn ngữ của các em còn chưa nhiều, chưa sâu, chưa rộng nên các em ngại phát biểu và nhận xét bài của bạn. Đồng thời chưa biết chỉ ra những ưu điểm, tồn tại ở bài làm của bạn một cách khoa học.

– Các em chưa được quan sát, gặp và chứng kiến trực tiếp đối tượng được nêu trong đề bài.

2.2.Giáo viên.

– Với mỗi tiết trả bài giáo viên cần phải đầu tư thời gian nhiều cho việc chấm bài, thiết kế bài dạy.

– Về nhận thức: Đa số giáo viên chưa coi trọng giờ trả bài. Chưa có nhận thức đúng đắn về tiết học này.

2.3. Nhà trường

– Chưa có đủ sách, đặc biệt là sách tham khảo cho giáo viên và học sinh để có thêm tư liệu phục vụ cho việc dạy và học.

2.4. Gia đình 

– Một số ít gia đình chưa quan tâm chăm sóc con cái, chưa đầu tư thời gian cho con em học ở nhà, chưa mua sắm đầy đủ sách vở đặc biệt là sách tham khảo cho con em mình.

2.5. Điều kiện thực hiện:

*/ Học sinh:

– Có đầy đủ sách giáo khoa, sách tham khảo.

– Có vở để ghi chép lại những lỗi sai của mình thường hay mắc phải , từ đó tìm ra cách sửa.

– Tạo cho học sinh thói quen khi đọc được những câu văn hay trong sách, thì ghi chép lại thành tư liệu của riêng mình.

– Yêu thích môn Tiếng việt.

*/ Gia đình:

– Quan tâm chăm sóc con cái  – Mua sắm đầy đủ sách vở cho các em.

– Thường xuyên trao đổi với giáo viên chủ nhiệm.

*/ Giáo viên:

– Nghiên cứu kĩ bài dạy theo từng nội dung bài cụ thể và bám sát theo chuẩn kiến thức, kĩ năng.

– Đổi mới phương pháp dạy học phù hợp với đặc điểm học sinh lớp mình theo hướng: lấy học sinh làm nhân vật trung tâm và dạy học theo hướng phân loại các đối tượng học sinh.

– Phải có sổ chấm trả bài nhằm theo dõi riêng, phân loại được học sinh.

*/ Nhà trường :

– Mua sắm đầy đủ thiết bị, đồ dùng phục vụ cho việc dạy và học.

– Tạo điều kiện cho giáo viên và học sinh được đọc các sách tham khảo, được thường xuyên làm quen và dạy thực nghiệm bằng công nghệ thông tin…

*/ Bài học kinh nghiệm:

Kinh nghiệm của tôi chỉ áp dụng cho học sinh trường tiểu học tôi đang dạy và đặc biệt là học sinh lớp 5. Sau khi dạy tiết Tập làm văn  trả bài tôi tự rút ra bài học sau:

1 – Đối với giáo viên:

– Phải phân loại được các đối tượng học sinh, nắm được lỗi điển hình của từng em, lỗi điển hình của lớp. Từ đó có hướng cụ thể, đề ra biện pháp cụ thể.

– Phải làm tốt khâu chấm bài, chỉ ra những lỗi sai của từng câu, từng bài thể hiện trong bài làm của học sinh.

– Phải khen thưởng, động viên kịp thời những em có bài văn hay, để cho lớp học tập bạn. Từ đó nhân điển hình của lớp lên.

– Thiết kế bài dạy phải có đổi mới. Trong bước bài mới phải thực hiện đúng tiến trình như đã nêu, nhằm đảm bảo tính khoa học.

– Đặc biệt phải trú trọng đến tình hình chữa lỗi cho các em, phải biết kết hợp các phương pháp dạy học với hệ thống câu hỏi mang tính gợi mở để thực hiện tốt phần này.

– Sau mỗi bài viết, nghĩa là sau mỗi tiết trả bài phải chỉ rõ lỗi mắc của học sinh, có hình thức thưởng phê bình thích đáng, công minh.

2 – Đối với học sinh: Cần tích cực học tập, tích cực đào sâu suy nghĩ để chủ động tiếp thu tri thức.

  1. CAM KẾT KHÔNG SAO CHÉP HOẶC VI PHẠM BẢN QUYỀN

Đề tài của tôi mới là đổi mới một số vấn đề về dạy tiết trả bài cho học sinh lớp 5 Tôi muốn khẳng định lần nữa rằng, tiết trả bài là khâu rất quan trọng  trong quá trình hoàn thiện bài văn hay, diễn đạt gẫy gọn hơn cho tiết sau. Trong tiết này thì khâu chấm bài, nhận xét của bài viết của học sinh lại rất quan trọng, làm sao chỉ ra lỗi cho học sinh công nhận, khi hiểu được rồi học sinh sẽ biết cách sửa và không mắc lại hoặc rất ít mắc lại. Để luyện cho học sinh có kĩ năng dùng từ đặt câu chính xác, câu cần có đầy đủ các vế câu gẫy gọn xúc tích, ngoài việc dạy đủ các loại bài trong môn Tiếng việt, người giáo viên phải biết kết hợp giữa thầy và trò, tôn trọng quy tắc “thầy chủ đạo, trò chủ động …”. Soạn bài, chấm bài, giảng bài không hời hợt qua loa. Khi hướng dẫn học sinh dùng từ đặt câu phải chính xác. Những vấn đề đó sẽ được tận dụng tối đa vào tiết trả bài. Vì tiết đó các em sẽ có những câu cụ thể của chính mình để thay thế, sửa chữa.

Cốt lõi cơ bản của tiết “Trả bài viết” tập làm văn là làm cho học sinh tự nhận xét được điều hay, cái chưa được về bài viết của mình, của bạn qua một đề bài cụ thể, để rồi cùng nhau học tập cái hay, sửa chữa lỗi mắc phải. Kinh nghiệm bản thân cho thấy, dù đối tượng học sinh nông thôn hay thành thị, trình độ tiếp nhận và hoạt động ngôn ngữ có khác do ảnh hưởng môi trường gia đình, xã hội, nhưng với lòng nhiệt tình, tâm huyết của người thầy, nhận thức đầy đủ về tầm quan trọng của tiết học, không ngừng nâng cao chất lượng giảng dạy, luôn cải tiến phương pháp dạy học theo hướng lấy học sinh làm trung tâm. Nắm chắc những ưu, nhược điểm của các em trong hành văn, luôn tìm tòi hệ thống câu hỏi gợi mở thích hợp nhằm phát huy tính tích cực học tập, mạnh dạn tham gia phát biểu ý kiến xây dựng bài của học sinh. Đồng thời với vai trò chủ đạo của người thầy, động viên tạo niềm tin, hưng phấn và ý thức độc lập suy nghĩ trong quá trình học tập của học sinh. Đó là yếu tố quyết định sự thành công của tiết dạy “Trả bài viết” cho học sinh đạt hiệu quả chất lượng cao. Song đó chỉ là sự trải nghiệm, vận dụng của bản thân, kính mong sự góp ý tận tình, thuyết phục, thực tiễn khả thi của quý nhà quản lý giáo dục; sự trao đổi chân tình, thẳng thắn của quý đồng nghiệp.